Ngày 19 tháng 8 năm 2006, năm chàng trai bước lên sân khấu ở Seoul. Xét theo những tiêu chuẩn mà một nhóm nhạc thần tượng khi ấy phải đáp ứng – một concept hình ảnh được trau chuốt, phần vũ đạo khớp nhau không một đường nối, những bài hát do công ty chuẩn bị sẵn – người ta nói BIGBANG không đạt được điều nào cả. Họ cũng là một kiểu nhóm hiếm gặp vào thời điểm đó: toàn bộ hành trình cho đến khi chốt đội hình ra mắt đều được phát sóng dưới dạng phim tài liệu loại trừ.
Đúng hai mươi năm sau, ngày 19 tháng 8 năm 2026, BIGBANG phát hành đĩa đơn kỹ thuật số mới “BiiiG” vào đúng ngày đó. Hai ngày sau, một tour diễn vòng quanh thế giới tại các sân vận động với 33 đêm diễn ở 19 thành phố sẽ khởi động.
Tất cả những gì diễn ra ở giữa có thể gói lại trong một câu. Một nhóm bị gạt sang bên vì không hợp chuẩn cuối cùng lại trở thành bên làm thay đổi chính cái chuẩn ấy.

Từ thần tượng được trao bài hát đến thần tượng tự viết bài hát
Giữa những năm 2000, mô hình sản xuất trong K-pop khá rõ ràng. Công ty chọn bài, thêm vũ đạo, thiết kế concept, còn nghệ sĩ thì thực hiện. Trong cấu trúc đó, năng lực của một thần tượng chủ yếu được đo bằng việc họ hoàn thành ý đồ của người khác tốt đến đâu.
Đây chính là điểm mà BIGBANG đã thay đổi.
Bước ngoặt là “Lies”, ca khúc chủ đề của mini album Always năm 2007. Do chính trưởng nhóm G-DRAGON viết lời và sáng tác, ca khúc trở thành bản hit lớn nhất năm đó, rồi “Last Farewell” và “Haru Haru” nối tiếp nhau đưa nhóm lên hàng ngôi sao. Đó là thời điểm công chúng xác nhận trên bảng xếp hạng rằng khả năng sáng tác có thể là vũ khí sinh tồn của một thần tượng, chứ không chỉ là điểm cộng.
Sau đó, kho nhạc của họ chưa bao giờ dừng lại ở một thể loại. Xuất phát từ hip-hop, họ đi qua nhạc điện tử, R&B, ballad và pop-rock; trong dự án MADE năm 2015, chất pop thay thế của “LOSER” và những lớp synth dữ dội của “BANG BANG BANG” cùng tồn tại trên một album. Lý do một nhóm giữ được phổ rộng đến vậy có vẻ mang tính cấu trúc: hướng đi của một bài hát có thể được quyết định ngay trong nội bộ nhóm.
Dấu vết mà cách làm này để lại ở các thế hệ sau thể hiện rõ nhất qua lời của những nghệ sĩ trẻ hơn. Trong một chương trình trò chuyện năm 2023 cùng TAEYANG, SUGA của BTS nói rằng sẽ không quá lời khi bảo BIGBANG gần như đã tạo ra BTS, và rằng họ là những nhạc sĩ mà anh muốn trở thành khi còn nhỏ. JIMIN, thành viên cùng nhóm, từng nói TAEYANG với anh là một hình tượng ngang tầm thần tượng.
Những nhóm đặt việc tự sản xuất lên hàng đầu ngày nay không hiếm. Chính vì vậy mà điều này dễ bị bỏ qua: mô hình đó vốn không hiển nhiên ngay từ đầu. Trước khi một nhóm như SEVENTEEN, nơi các thành viên tự đảm nhận khâu sản xuất, được xem là chuyện đương nhiên, đã phải có ai đó chứng minh rằng cách làm ấy hiệu quả.

Trên sân khấu, và ngoài sân khấu
Cụm từ mà khán giả Hàn Quốc dùng để nói về phần vũ đạo đồng bộ tuyệt đối gần như không xuất hiện khi người ta mô tả các màn trình diễn của BIGBANG. Thay vì khớp từng động tác một cách chính xác, năm thành viên chọn cách mỗi người chiếm lĩnh sân khấu theo kiểu của riêng mình. Vào thời điểm đó, điều này bị đọc như một điểm yếu, nhưng rốt cuộc lại nới rộng thêm một nấc phạm vi của những gì một sân khấu K-pop có thể là.
Quy mô các tour diễn là một trong những chỉ dấu cho thấy cách làm đó có hiệu quả.
Bảng 1. Các tour diễn thế giới chính của BIGBANG
| Tour diễn | Quy mô | Lượng khán giả |
|---|---|---|
| Alive Galaxy Tour (2012-2013) | 48 đêm diễn, 21 thành phố, 12 quốc gia | Khoảng 800.000 |
| MADE World Tour (2015-2016) | 66 đêm diễn, 32 thành phố, 13 quốc gia | Khoảng 1,5 triệu |
| Các tour nhà thi đấu mái vòm tại Nhật Bản (2012-2017, tổng cộng) | — | 4.205.500 |
Con số 1,5 triệu của MADE World Tour khi ấy là kết quả lớn nhất mà một nghệ sĩ Hàn Quốc đạt được trong một tour diễn đơn lẻ. Tại Nhật Bản, từ đêm diễn mái vòm đầu tiên đến tour mái vòm cuối cùng, tổng lượng khán giả vượt 4,2 triệu; việc một nghệ sĩ nước ngoài lấp đầy các nhà thi đấu mái vòm Nhật Bản lặp đi lặp lại trong khoảng thời gian như vậy không phải là chuyện thường thấy.
Họ cũng để lại một dấu mốc tại Mỹ. Năm 2012, mini album Alive vào bảng Billboard 200 ở vị trí 150, trở thành album K-pop tiếng Hàn đầu tiên có mặt trên bảng xếp hạng này. Theo tiêu chuẩn hiện nay thì thứ hạng có vẻ khiêm tốn, nhưng vào lúc đó chưa từng có tiền lệ một album K-pop lọt vào bảng xếp hạng chính của Mỹ.
Cũng cần nhìn cả sức ảnh hưởng vượt ra ngoài sân khấu. Họ đưa các thương hiệu cao cấp vào trang phục biểu diễn, và G-DRAGON sau đó giành được một vị trí độc lập trong ngành thời trang với thương hiệu riêng PEACEMINUSONE. Cấu hình trong đó một thần tượng trở thành đối tác của thương hiệu chứ không phải người tiêu dùng đã hình thành trong giai đoạn này.
Dấu vết của mạch này cũng đọc được trong ngôn ngữ sân khấu của những nhóm đến sau ở cùng công ty – TREASURE và BABYMONSTER.

Cộng đồng người hâm mộ tự đặt tên cho chính mình
Tên fandom của BIGBANG, V.I.P, đến từ một ca khúc trong đĩa đơn BigBang is V.I.P phát hành tháng 9 năm 2006. Như vậy fandom đã có tên chỉ hơn một tháng sau khi ra mắt – dù vậy, thứ mà nhóm để lại cho văn hóa fandom và lan đi xa nhất lại là chuyện khác.
Đó là chiếc lightstick màu vàng hình vương miện, thường được gọi là “Bangbong”.
Trước đó, đồ cổ vũ tại các buổi hòa nhạc chủ yếu là bóng bay mang màu đại diện của nhóm hoặc những chiếc gậy phát sáng na ná nhau. Chiếc lightstick hình vương miện, có sự tham gia thiết kế của G-DRAGON, trở thành vật phẩm cổ vũ chính thức đầu tiên trong K-pop mang hình dáng riêng của một nhóm duy nhất. Ngày nay gần như nhóm nào cũng có lightstick riêng, và nó được dùng như một phần của dàn dựng sân khấu. Điểm khởi đầu nằm ở đây.
Chiếc vương miện ấy vẫn tiếp nối ở năm thứ hai mươi. Chiếc lightstick mới ra mắt nhân dịp kỷ niệm, Light Stick 20th Anniversary Edition, mang biểu tượng kết hợp chữ “B” tạo hình như khóa Sol, con số “20” và một dấu hồi. Việc chọn đưa dấu lặp lại vào có thể đọc song song với thời điểm hiện tại: khép lại hai mươi năm rồi mở ra lần nữa.
Có một chỉ dấu gần đây cho thấy fandom này đã trụ được bao lâu. Ngày 18 tháng 5 năm 2026, BIGBANG mở đăng ký thế hệ thứ sáu của fanclub chính thức V.I.P. Thế hệ thứ năm được tuyển vào năm 2015, nên đây là lần đầu tiên sau mười một năm. Trong phần lớn quãng thời gian đó, nhóm không hoạt động đầy đủ đội hình.
Các con số cũng để lại dấu vết. MV “BANG BANG BANG” ra mắt năm 2015 đã vượt 800 triệu lượt xem trên YouTube vào tháng 9 năm 2025 – MV đầu tiên của một nhóm K-pop thế hệ thứ hai làm được điều này. Trên Spotify, tính đến tháng 8 năm 2026, nhóm ghi nhận khoảng 5,5 triệu người nghe hằng tháng và khoảng 6,7 triệu người theo dõi. Các thành phố có nhiều người nghe nhất lần lượt là Kuala Lumpur, Singapore, Thành phố Hồ Chí Minh, Seoul và Hà Nội, cho thấy lượng người nghe tập trung ở Đông Nam Á vẫn được giữ vững ngay cả trong những năm im ắng nhất.

Ngày tròn hai mươi năm
Tháng 4 năm 2026, BIGBANG bước lên sân khấu Coachella. Đội hình khởi đầu với năm người vào năm 2006 nay được ba thành viên tiếp nối – G-DRAGON, TAEYANG và DAESUNG – và chính ba người đã lấp đầy sân khấu hôm đó. Họ mở màn bằng “BANG BANG BANG”, còn danh sách bài hát pha trộn những ca khúc như “FANTASTIC BABY” và “Haru Haru” với chất liệu từ những năm đầu tiên.
Trên sân khấu đó, G-DRAGON đã nói thế này.
“BIGBANG has reached its 20th anniversary. It’s a restart. BIGBANG will continue.”
Tháng 8 năm 2026 là lúc những lời ấy chuyển thành lịch trình cụ thể.
Ngày 19 tháng 8, đúng ngày tròn hai mươi năm kể từ khi ra mắt, đĩa đơn kỹ thuật số mới “BiiiG” được phát hành. Đây là ca khúc mới đầu tiên sau hơn bốn năm, kể từ “Still Life” năm 2022. Tựa đề lấy từ từ tiếng Anh “Big” và nối tiếp chính tên của nhóm.
Hai ngày sau, từ ngày 21 đến 23 tháng 8, tour diễn thế giới XX : COSMOS khai màn tại Goyang Stadium. Trong tên tour, “XX” tượng trưng cho hai mươi năm, còn “COSMOS” chỉ mối liên kết được giữ suốt quãng thời gian đó. Lịch trình kéo dài đến Cao Hùng, Đài Loan vào ngày 28 tháng 2 năm 2027, và quy mô được xác nhận đến hiện tại là 33 đêm diễn ở 19 thành phố.
Bên ngoài sân khấu cũng có hoạt động đánh dấu cột mốc hai mươi năm. Từ ngày 14 đến 23 tháng 8, khu vực bờ đông của Seokchon Lake ở Seoul được trang trí bằng sắc vàng – màu đại diện của BIGBANG – và một tác phẩm điêu khắc hình vương miện cao 5 mét được dựng trên sân khấu ven hồ. Dọc lối đi bộ đặt 400 đèn vàng, và tại đó phát 21 ca khúc tiêu biểu của nhóm, trong đó có “Lies”, “Haru Haru” và “BANG BANG BANG”. Đây là dự án nghệ thuật công cộng do YG Entertainment và Lotte Department Store tổ chức với sự hỗ trợ của quận Songpa, và cũng là lần đầu tiên hồ này lấy K-pop làm chủ đề.
Chiếc vương miện khởi đầu từ một chiếc lightstick, hai mươi năm sau đứng trên mặt hồ dưới dạng tác phẩm điêu khắc cao 5 mét.
Tour diễn này chồng lên nhau hai tầng ý nghĩa: đây là tour thế giới đầu tiên với đội hình ba người, đồng thời là tour thế giới riêng đầu tiên sau chín năm, kể từ 2017. Trong quãng thời gian đó, cả ba vẫn tiếp tục làm nhạc ở vị trí của mình. TAEYANG đã phát hành album phòng thu đầu tiên sau khoảng chín năm vào tháng 5 vừa qua, còn G-DRAGON và DAESUNG tiếp tục hoạt động solo tại công ty của mỗi người.
Hai mươi năm trước, đây là một nhóm không vừa với cái chuẩn. Họ nói sẽ tự viết nhạc, nói mỗi người sẽ sử dụng sân khấu theo cách riêng thay vì khớp vũ đạo, và tự tay vẽ chiếc lightstick của mình. Khi ấy những điều đó bị đọc là chưa đạt quy cách. Ngày nay, những lựa chọn đó lại gần với thiết lập mặc định của K-pop.
Ca khúc ra mắt ngày 19 tháng 8 sẽ như thế nào thì vẫn chưa rõ. Chỉ có điều, một nhóm chọn đúng ngày mình ra mắt để phát hành nhạc mới ở năm thứ hai mươi là chuyện không thường thấy, và riêng lựa chọn đó đã nói lên cách họ đối xử với thời gian.
